Tuesday, December 4, 2012

NGÔ ĐÌNH LỆ THỦY, HỒNG NHAN MỆNH YỂU



Kim Thanh
 
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương  
(Đoạn Trường Tân Thanh)
 
Gửi thầy Đỗ Hữu Nghiêm, cựu JECU
Niên khóa 1962-63, tôi học năm cuối của chương trình Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Còn nhớ cùng lớp tôi lúc ấy có nhạc sĩ Hùng Lân, người hiền lành, dễ mến, như một thầy tu, thỉnh thoảng nổi hứng bất tử ngồi lén ghi nốt nhạc ngay tại chỗ, trong lúc thầy giảng bài. Có bà sơ Phạm Thị Nhâm, mà tôi thường hỏi mượn cua mỗi lần trốn học đi chơi, sau trở thành hiệu trưởng trường Nữ Thánh Tâm Nha Trang, và đã nhận ra tôi ngay khi vừa thấy tôi lò dò đến trường xin dạy. Có Đặng Tiến, da vàng ủng như người bị sốt rét kinh niên, tóc bờm xờm không chải, nói tiếng Pháp đặc giọng Quảng Nam, trước 75 ở phòng tùy viên Tòa đại sứ VNCH tại Thụy Sĩ, đào ngũ qua Pháp sống cho đến bây giờ, chuyên viết báo nịnh hót Cộng sản và phê bình gia văn chương có hạng. Có Đại úy Bộ Binh Ngô Văn Minh, sau lên chức Đại tá Tham mưu trưỏng Quân Đoàn III, Biên Hòa. Có Wang Seng, cô bạn Tàu, Bùi Thế Cần, Lương Thị Nga, Thái Thị Nhân, Lê Thị Bích, Thái Tuyết Lê, Lê Thị Ngọc Loan, và Irène Công Huyền Tôn Nữ Phụng Tiên  -đồng hương Nha Trang và đồng môn trong lớp Latin của M. Le Menn- tất cả đang ở Pháp. Có Nguyễn Nương Minh Châu, sau thành vợ Bác sĩ Đinh Hà, cả hai là cựu JECU (viết tắt của Jeunes Etudiants Catholiques Universitaires, Thanh Sinh Công Đại Học), đang sống rất thầm lặng tại một nơi nào trên đất Mỹ.
      Đầu niên học, từ lầu ba, tôi và Bùi Thế Cần (học giỏi nhất lớp, con của dân biểu Bùi Tuân, Huế) hay xuống lầu một, vào giảng đường Dự Bị, để tìm người quen giữa đám nai vàng ngơ ngác, hay đúng hơn tuyển mộ tân binh cho JECU. Lúc ấy, Cần là trưởng JECU Liên Trường, Nguyễn Ánh Tuyết (con trai), thư ký, còn tôi, trưởng Nhóm Văn Khoa Pháp. Một hôm, tôi thấy đứng trước cửa giảng đường một sĩ quan mang ba hoa mai bạc, đầu đội béret đỏ, tay cầm một xấp cua. Ông dáng cao gầy, vẻ tươi cười. Gặp ông, tôi khẽ gật đầu chào, và ông lịch sự chào lại. Có người cho biết, đó là Đại tá Cao Văn Viên. Mấy năm sau, ông lên tướng, trở thành xếp quá lớn của tôi, và lấy bằng Cử Nhân Pháp. Có kẻ xấu mồm nói, ông nhờ người đi học và đi thi thay cho ông. Tôi không tin. Vì ở Văn khoa Pháp, thầy cô không phát cua, phải vào lớp ghi chép hoặc mượn ai, và kỷ luật thi cử lúc bấy giờ khá gắt gao, ít sinh viên, lại phải thi oral, thầy trò biết mặt nhau hết, rất khó gian lận.
      Vào trong giảng đường, Cần và tôi ngồi lẫn lộn với đám tân sinh viên, nghe cha Cras giảng về Socrate và Hégel hay thầy Kiết dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt mà phát mệt trở lại. Một hôm, chúng tôi thấy Yvonne Lan Hương, cô bạn trong JECU, học dưới một lớp, đang ngồi trò chuyện với một cô. Bèn sà đến. Yvonne giới thiệu, đây Thủy, Ngô Đình Lệ Thủy. Lần đầu gặp cô, chúng tôi không nói gì hơn ngoài vài câu xã giao thông lệ.
     Về sau, khi Lệ Thủy gia nhập JECU Văn khoa Pháp, tôi tiếp xúc với cô thường hơn, nhưng thường chỉ để thông báo ngày và chương trình họp của Hội. Cô có dáng thanh thanh, vẻ thùy mị, thông minh, ít nói, ít cười, đôi mắt linh hoạt, khuôn mặt hơi vuông, cằm hơi nhọn, tóc dày, cài bandeau trắng hoặc đỏ. Chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, cho nên bây giờ tôi không biết cô nói tiếng Việt ra sao, giọng miền nào. Đó là một điều mà sau gần nửa thế kỷ, già đi, nghĩ lại, tôi thấy “dị hợm”, mắc cỡ, mặc dù do thói quen, giống như các em Việt Nam hiện tại ở Mỹ nói chuyện bằng Anh ngữ, chứ chẳng vì “snobisme”, thời thượng, lòe thiên hạ. Lệ Thủy thường mặc váy đỏ, áo sơ mi trắng đi học, đôi khi cả đồng phục Thanh Nữ Cộng Hòa. Nói chung, cô khá đẹp, nhưng không lồ lộ, sexy như Irène, không tươi lộng lẫy như Lương Thị Nga. Một sắc đẹp trang nhã, đài các. Tôi để ý, cô ở đâu là luôn luôn có hai anh chàng gorilles (hộ vệ), giả dạng sinh viên, ngồi phía dưới, cách cô một dãy bàn, nhìn chòng chọc vào mọi người.
    JECU Văn Khoa Pháp lâu lâu ra một tờ Bản Tin (Bulletin), bằng tiếng Pháp, do Bùi Thế Cần, Ánh Tuyết, Minh Châu và tôi viết gần hết, vì không ai gửi bài. Trong đó, thỉnh thoảng có đăng một vài bài thơ tình lẩm cẩm của tôi, không đối tượng, chỉ là gửi gió cho mây ngàn bay, mà bây giờ tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:
 
               Je veux tremper mes lèvres
               Dans l' eau pure de ton coeur
               Et émerger frissonnant
               D' une aube de lumière...
                (Anh muốn nhúng môi anh
               Vào nước tinh tuyền tim em
               Và bừng lên run rẩy
               Dưới ánh sáng bình minh…)
 
 hay những câu dịch của John Keats, hoặc Tennyson, đại khái:
 
               Ce n' est pas toi que je regrette
               C' est le rêve par toi brisé
               (Không phải em mà anh tiếc nuối
               Mà giấc mơ vì em vỡ tan) 
 
Lệ Thủy đọc xong, mày hơi nhíu, bảo tôi, nghiêm trang như một cô giáo la rầy học trò: "Je n' savais pas que tu es si romantique. Les poèmes d’amour, ça c’est vraiment beau, mais ils désespèrent aussi" (tôi không biết anh lãng mạn dữ thế. Những bài thơ tình hay thật, nhưng cũng làm người ta tuyệt vọng). Tôi khoát tay, ấp úng chối tội như ăn vụng bị bắt quả tang: “Un peu, oui, j’ n’ les ai faits que pour m'amuser. Rien de sérieux!” (Chút chút, đúng, tôi chỉ làm để chơi vui thôi mà. Không có gì quan trọng!).
Lệ Thủy không bao giờ đến CLB Phục Hưng để họp, ngoại trừ một lần, tôi nhớ, tham dự thánh lễ đầu tháng cho toàn JECU do cha Pineau cử hành, rồi về ngay sau lễ. Chúng tôi chỉ gặp nhau tại giảng đường Propédeutique, trong giờ nghỉ giải lao, năm sáu đứa ngồi cuối phòng, có khi tại bàn của Lệ Thủy, thảo luận, hay trao đổi vài thông tin cần thiết. Hai anh chàng gorilles, chắc đã được báo trước, đứng xa xa hút thuốc, để chúng tôi yên.
   
Một ngày thứ bảy, JECU Liên Hội tổ chức đi thăm trại cùi và nhà thương điên Chợ Quán. Mỗi người góp mười đồng, làm chi phí lặt vặt, và ăn trưa. Số tiền không nhỏ, hơn ba tô phở vào thời ấy, đối với ngân quỹ khiêm tốn của sinh viên còn lãnh lương cha mẹ. Lệ Thủy đưa cho tôi một trăm đồng, trước mặt Cần, nói là tiền của “maman cho Hội”, nhưng “tiếc là Thủy bận việc bên Thanh Nữ Cộng Hòa, không đi với tụi toa được”.  Tôi nhận tiền, cám ơn, rồi nói nhỏ vào tai Cần: “Như thế cũng hay. Có Thủy tham gia, hai  gorilles phải theo, phiền phức, mà trông ngứa mắt lắm!”
      Hôm ấy, tất cả chúng tôi, khoảng bốn chục người, chia nhau lên hai xe buýt, tuyến đường Chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo. Hoặc tự túc, có xe hơi riêng, như hai chị em Anh Thư, Hạp Thư, hay “đại ca” Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ. Tổ y tế gồm các sinh viên Y khoa, trang bị ống nghe và túi cứu thương, do Đinh Hà hướng dẫn, làm công tác khám bệnh, phát thuốc. Tổ ăn uống do Rosa điều động. Tổ văn nghệ gồm một cây guitare và một số ca sĩ mầm non, do các cô bên Dược phụ trách, trong số có Yvette Trương Tấn Trung, đang ở Pháp. Bùi Thế Cần làm tổng tư lệnh, Nguyễn Ánh Tuyết phụ tá.
       Đầu tiên chúng tôi thăm nhà thương điên. Toàn đàn ông. Vài ông, tóc dài rũ rượi, biểu diễn nhiều màn rất… điên, như xé áo xé quần, rú lên những tràng cười kinh dị, khiến các cô sợ quá, mặt mày tái mét. Nhưng đa số hiền lành đứng nhìn chúng tôi đi qua, vẻ thẫn thờ, ngây dại. Tôi cười, chào, hỏi thăm, họ vẫn vô cảm. Rồi cả toán chuyển sang thăm trại cùi. Thói quen nghề nghiệp, Đinh Hà phát sẵn mấy chai alcool, để tùy nghi. Bệnh nhân rất đông, sống theo khu, gồm cả con nít, trông rất tội nghiệp. Tôi không lạ với cảnh này, vì gần xóm tôi ở Nha Trang, khu Lạc Thiện, cũng có một trại cùi do các tu sĩ dòng Franciscains sáng lập và đảm nhiệm, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ là một khán giả bàng quan, đi ngang tò mò đứng nhìn vào qua những vòng rào kẽm gai dày. Bây giờ, lần đầu tiên có dịp thấy tận mắt những thân hình gầy còm, lở lói, những bàn tay, bàn chân co quắp, hoặc mất ngón, những cặp mắt mờ đục, mù lòa. Và lòng dâng tràn một niềm cảm thương vô hạn. Tổ y tế bắt đầu khám, phát thuốc cho những bệnh nhân cùi bị cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, do trưởng trại giới thiệu, yêu cầu. Các cô tập họp những cháu bé lại, phát kẹo, tập chúng hát theo nhịp đàn guitare của Nguyễn Ánh Tuyết, vỗ tay, rồi cười lớn tiếng với nhau. Vài cháu chưa bị nhiễm bệnh, mặt mày trông rất sáng sủa, thông minh, phải theo sống chung với cha mẹ.
 
        Tháng sáu 1963, mãn trường. Bùi Thế Cần, Nguyễn Nương Minh Châu đậu Cử Nhân liền một khi. Tôi rớt oral chứng chỉ Văn chương Quốc âm, bắt buộc cho sinh viên Văn khoa Pháp-Anh, vì trong buổi thi vấn đáp với giáo sư Vương Hồng Sển tôi không nhớ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị ông nào theo Tây, ông nào chống Tây, và đem thơ ông này cắm vào cằm ông kia. Với giáo sư Bửu Cầm, kết quả còn tệ hơn, tôi không biết chiết tự bốn câu thơ chữ Nôm của thi sĩ Tuy Lý Vương, đứng chịu chết như Từ Hải, nhìn thầy cười cầu tài. Phải thi lại hai môn vấn đáp này. Còn những nàng tiên nga “trong đám xuân xanh ấy”, mà tôi đã kể tên ở trên, chưa có ai “theo chồng bỏ cuộc chơi”, như trong thơ Hàn Mặc Tử, nhưng đã lần lượt đi du học Pháp một cách lặng lẽ từ năm thứ hai, thứ ba. Cần ra Huế, tôi về quê Nha Trang, dạy tại Collège français môn Việt văn cũng nhờ cái chứng chỉ Văn chương Quốc âm khó ác ôn ấy.
        Không bao giờ tôi gặp lại Lệ Thủy, đã biến mất, từ ngày cô tặng JECU chúng tôi một trăm đồng. Tôi biết cô cũng đã đậu Propédeutique, qua bản niêm yết dán trước của trường, với tên chính thức, đầy đủ: Anne-Véronique Ngô Đình Lệ Thủy, sinh năm 1945. Chiến sự mỗi ngày leo thang. Khủng hoảng chính trị gia tăng. Sinh viên và Phật tử xuống đường hàng ngày. Cảnh sát dàn chào với dùi cui, lựu đạn cay. Những tờ báo chui chửi thậm tệ chế độ. Làm tôi rất quan tâm vì, qua Lệ Thủy, cảm tình của tôi với cụ Diệm rất sâu nặng, không như một vài bạn JECU khác. Tôi lờ mờ hiểu rằng thế nào bàn tay lông lá của người Mỹ cũng đã nhúng vào nội bộ Việt Nam. Nhưng tôi tin tưởng và cầu mong cụ Diệm sẽ vượt qua hết như lần đảo chánh hụt 1960. Thời gian sau đó, nhiều biến cố xảy ra, dồn dập. Lựu đạn nổ tại đài phát thanh Huế. Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Nữ sinh viên Quách Thị Trang biểu tình bị cảnh sát bắn chết tại chợ Bùng Binh Sài Gòn. Rồi đảo chánh. Ngày 2/11/1963, nghe tin hai anh em cụ Diệm bị giết, ba tôi chảy nước mắt và trong giờ kinh tối ba bắt cả nhà đọc thêm kinh cầu hồn cho hai cụ. Còn tôi tự nhiên thấy buồn vô hạn, suốt mấy bữa, mặc dù chưa hề lãnh được một tí ơn mưa móc nào từ chế độ.
Lúc ấy Lệ Thủy đang ở ngoại quốc với mẹ trong chuyến công du giải độc. Liền sau đảo chánh, các phản tướng chia nhau tiền thưởng của CIA, nhảy đầm thả giàn, phá bỏ các ấp chiến lược. Báo chí, sách vở (của anh chàng Hoàng Trọng Miên nào đó chẳng hạn) mở chiến dịch bôi nhọ gia đình họ Ngô, và bà Nhu, Lệ Thủy cũng bị dính miểng. Nào là bà Nhu có một chiếc ghế khích dục, trong dinh Độc lập, nhưng sự thật đó chỉ là chiếc ghế làm răng thường thấy trong phòng nha sĩ. Nào là ông Nhu bất lực. Nào là bà Nhu tư tình với cụ Diệm, với ông tướng này, ông tướng nọ. Nào là Lệ Thủy có nhiều bồ, kể cả một anh người Nhật, Lệ Thủy thất tình, học Văn Khoa, chỉ ghi danh, không đến lớp mà cũng có bằng, v.v… Tôi đọc và thấy buồn nôn. Vô lý quá, vậy mà dân chúng ít học hoặc quá khích vẫn tin, thế mới kỳ lạ. Thì cũng giống như dân quê miền Bắc mười mấy năm sau, đã ném đá vào sĩ quan cải tạo chúng tôi một cách thật tình, nguyền rủa chúng tôi là “quân mọi rợ giết người, ăn thịt con nít, hiếp dâm phụ nữ.”  
       Công việc và đời quân ngũ làm tôi quên Ngô Đình Lệ Thủy. Kỷ niệm với JECU những ngày có cô cũng dần phai theo thời gian.
 
2. Cho đến đầu năm 1967. Bốn năm sau. Tôi được tăng phái cho Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn tại quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), nổi tiếng nguy hiểm, thuộc tỉnh Phan Thiết. Ngày đi hành quân tìm địch, qua các thôn xóm, đêm đóng quân ven rừng, mắc võng giữa hai thân cây nằm nghe tiếng đại bác ầm ì xa xa, nhìn hỏa châu từng hồi loé sáng trên ngọn Tà Dôm, mà thương cho kiếp lính tráng nay đây mai đó, trực diện cái chết cận kề. Một buổi trưa, tôi đang nói chuyện với ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một viên đạn rít ngang nón sắt, cách đầu tôi một đường tơ, xuyên ngay cổ binh nhất H., mang máy truyền tin PRC 25 đứng gần đó, làm anh gục chết tại chỗ. Tên du kích bắn sẻ vụt bỏ chạy, bị lính Tiểu đoàn rượt theo và lãnh trọn một tràng carbine, phơi thây. Một người lính, bà con của H., giận dữ chửi thề và muốn xẻo tai tên này để trả thù, tôi phải khuyên ngăn mãi, mới thôi. Cảnh tượng quá thảm cho bên này, bên kia. Tôi nghĩ thêm, những người lính chiến miền Nam, hơn ai hết, là những người thực sự yêu chuộng hòa bình, và vì yêu chuộng hoà bình họ phải hy sinh mạng sống đánh đuổi giặc xâm lược từ Miền Bắc. Nếu phải chống đối chiến tranh thì họ mới là những người có quyền lên tiếng trước tiên, chứ không phải những anh làm thơ, làm nhạc ấm ớ ở hậu phương, sợ chết, trốn quân dịch, núp bóng các ông sĩ quan văn phòng cao cấp mê văn nghệ, để mà gào thét ngưng chém giết, nối vòng tay lớn, tay nhỏ. Rồi tại sao lại phản chiến một chiều? Tại sao không ra Bắc kêu gọi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp ngưng gây hấn và tấn công miền Nam? Tại sao chỉ to mồm lên án miền Nam là nơi đã cho họ cơm ăn, áo mặc, tự do sáng tác, tự do phản bội? Bao nhiêu câu hỏi cứ lẫn quẫn trong tôi, cho mãi đến hôm nay, khi những dòng nhạc dòng thơ góp phần làm mất nước ấy vẫn còn được yêu chuộng, mê man, và các tác giả được thổi bằng ống đu đủ lên tận mây xanh.
 
      Trở lại với Ngô Đình Lệ Thủy. Một ngày cuối tuần và cuối tháng 4, 1967, tôi cùng với vài sĩ quan bạn được phép lên Phan Thiết, cách Thiện Giáo khoảng mười lăm cây số, để nghỉ xả hơi qua đêm, và nhậu bia. Tại quán bánh căng “còn ướt sền sệt”, chúng tôi gọi mỗi người hai tô, mỗi tô hai mươi lăm cái, đổ đầy nước mắm, ăn cho bõ những bữa cơm sấy, đồ hộp ngán đến tận óc. Tôi mua một tờ nhật báo, và giật mình đọc tin Lệ Thủy đã chết trong một tai nạn xe hơi tại Pháp, chính xác tại Longjumeau, vùng Essonne, ngoại ô Paris. Chết tại chỗ. Lúc ấy cô vừa hai mươi hai tuổi. Bài báo kể, ban đêm, cô lái xe nhỏ và bị một camion ngược chiều húc thẳng, đầu xe của cô nát bấy. Sau này, đọc trên tờ Time, số Friday April 21, 1967, thấy cũng đăng đúng tin ấy.
     Mặc dầu tình cảm của tôi đối với cô, và ngược lại, chưa bao giờ thắm thiết, gắn bó, đong đầy, đủ để những giọt lệ trào dâng chan chứa, như trong mắt nàng kỹ nữ Tầm Dương làm đẫm vạt áo xanh của người Giang Châu Tư Mã thuở trước, tôi vẫn thấy bàng hoàng, xao xuyến. Tôi bỏ dở bữa nhậu đã bao lâu chờ đợi, ngồi thừ người, nghĩ đến những kỷ niệm thời sinh viên, JECU, những buổi họp, những bài thơ tình lẩm cẩm và lời phê bình nặng ký của cô, một trăm đồng “maman cho”. Đêm về, qua cửa sổ khách sạn, tôi nhìn trời xanh thẳm không gợn mây và nửa mảnh trăng mới mọc vàng úa trên ngọn núi Tà Dôm mà nhớ câu thơ của Mạc Đĩnh Chi khóc nàng công chúa Tàu: 
Y! Vân tán, tuyết tiêu / Hoa tàn, nguyệt khuyết
(Ôi! Mây tản, tuyết tan / Hoa tàn, trăng khuyết).
 
3. Hai tháng sau, tôi được lệnh thuyên chuyển đi Qui Nhơn. Tôi đáp chuyến bay Air VN đến Sài Gòn trước, dự trù ở chơi vài hôm, rồi về Nha Trang nghỉ phép một tuần, trước khi ra Qui Nhơn đáo nhậm đơn vị mới. Hành trang là túi ba lô và cây carbine đeo vai, cây Colt bên hông, và bộ quân phục mặc trên người. Trong chuyến bay có một số sĩ quan trẻ từ các đơn vị tác chiến về, cũng trang bị tận răng như tôi, báo hại các cô tiếp viên phải gom hết súng lại, đem cất đi một nơi phía sau phi cơ. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, đang đứng chờ taxi, tôi bất ngờ thấy Thái Tuyết Lê cũng từ chuyến Air France xuống. Tôi hỏi dồn:
      - Tuyết Lê phải không? Toa về từ Pháp? Không ai đón sao?
      - Không, moa không báo trước ngày giờ, muốn dành ngạc nhiên cho gia đình.
     Tuyết Lê, người Huế, cựu JECU mặc dầu ngoài Công giáo, là em bà chủ tiệm kem Phi Điệp, chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo, du học Pháp từ năm thứ ba Văn Khoa. Tay bắt mặt mừng, tôi mời Tuyết Lê đi chung chuyến taxi về thành phố. Trong xe, Tuyết Lê nhìn tôi đăm đăm, tấm tắc khen, “toa trông đen, nhưng có vẻ nam nhi, hùng dũng, khác với hồi còn là thư sinh.” “Dĩ nhiên, tôi vênh mặt đáp, bắt chước nghệ sĩ Hùng Cường, lính mà em!” Cả hai cùng cười vui.
     Câu chuyện xoay quanh bạn cũ bên đó, bên này, và tôi được biết Irène Phụng Tiên học ở Grenoble, quê hương của Stendhal, tác giả mà tôi yêu mến từ thời còn học tại Jean-Jacques Rousseau. Rồi cái chết của Ngô Đình Lệ Thủy. Đổi sang tiếng Pháp, để tài xế taxi không nghe hiểu, Tuyết Lê kể:
      - Tại Paris, tụi moa có đi viếng xác Lệ Thủy và dự lễ cầu hồn và đưa nó ra nghĩa trang. Đầu Lệ Thủy bị kính trước cắt gần lìa cổ. Khi liệm, được khâu lại và quàng bằng chiếc khăn lụa màu thiên thanh, trông mặt nó đẹp quá, thanh thản như một thiên thần. Bà Nhu từ Rome bay sang, ôm xác con mà khóc ngất, khiến tụi moa cũng khóc theo. Chiếc xe bị nạn là chiếc Peugeot còn mới do Tổng giám mục Ngô Đình Thục mua cho Lệ Thủy. Tài xế xe poids lourd không việc gì cả, bị thẩm vấn qua loa, rồi cho về.
     Tôi hỏi:
      - Lệ Thủy học môn gì ở Paris?
      - Trường Luật.
      - Tụi toa có gặp Thủy lần nào trước đó?
      - Thỉnh thoảng. Thủy vẫn gentille (dễ thương) như trước kia.
      Tôi bỗng thở dài:
      - Tội nghiệp nó quá! Đúng là hồng nhan bạc phận!
Xe ngừng trước tiệm kem Phi Điệp. Tuyết Lê giành trả tiền, mời tôi vào chơi, ăn kem.
Nhưng tôi thoái thác, “thôi, toa mới về, cần gặp gia đình, để dịp khác”, rồi vác túi ba lô và cây súng lững thững bước đi, gọi xích lô chở về nhà ông bác họ ở đường Nguyễn Trãi.
 
4. Nếu còn sống, năm nay Lệ Thủy cũng đã 66 tuổi. Quá khứ xa rồi, nhưng khi ngồi viết bài này, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi, bởi kỷ niệm. Tôi vẫn nhớ lời cô “la rầy” tôi một lần về những bài thơ tình làm tuyệt vọng. Và hôm nay tôi sửa lại câu thơ ngày đó:
 
                  C’est bien toi que je regrette
                  Ce n’est pas le rêve par toi brisé
                  (Chính em mà anh tiếc nuối
                  Không phải giấc mơ vì em vỡ tan)
 
     Nhưng trong một nghĩa nào, vì mang bệnh kinh niên lãng mạn, tôi nghĩ rằng mỹ nhân Ngô Đình Lệ Thủy mất sớm như vậy cũng hay. Để không bao giờ cho thế gian thấy tóc mình bạc màu.
 
 
Portland, 1/2011

Sunday, December 2, 2012

Wednesday, November 28, 2012

Cuộc phỏng vấn Hòa Thượng Tuyên Hóa



Đôi Nét Về Một Bậc Vĩ Nhân Từ Thế Giới Ô Trược Mà Không Nhiễm Trược
 
Cuộc phỏng vấn Hòa Thượng Tuyên Hóa do Bằng Đan Mỹ thực hiện,
 chuyễn dịch Anh ngữ bởi Peter Wu.
Trích từ Nguyệt san Lão Thiên.
Một nhóm phật tử gồm người Trung Hoa, Mỹ, Việt Nam và Canada đã tụ tập lại dưới sự lãnh đạo hiền đức của Hòa Thượng Tuyên Hóa, lúc đó đã hơn 72 tuổi. Họ cùng nhau tu tập lối sống khổ hạnh tại Chùa Vạn Phật Thánh Thành, nằm về phía bắc của San Francisco. Họ ăn ngày một bữa và mặc áo quần cũ. Họ chưa hề chấp thuận phỏng vấn hay cho chụp hình từ các giới truyền thông báo chí. Lần đầu tiên khi tôi xin phép phỏng vấn Hòa Thượng, Ngài đã từ chối. Lần thứ nhì, sau khi nói rõ về mục đích của nguyệt san Lão Thiên, Hòa Thượng đáp: "Vì báo Lãng Thiên đã gởi ông đến đây, chúng ta hãy nói chuyện với nhau một chút". Nhưng Ngài có một điều kiện là không được chụp hình. Dưới đây là bài nói chuyện của tôi với Hòa Thượng.
 
Bằng Đan Mỹ: Thưa Hòa Thượng, con trước hết xin hỏi tại sao Ngài quyết định xuất gia?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Tôi tin là mình sanh ra là để trở thành tu sĩ. Tôi sanh tại tỉnh Kiết Lâm, Trung Hoa. Trước khi xuất gia tôi họ Bạch, lúc mười hai tuổi tôi đã có ý định xuất gia. Cố nhiên cha mẹ tôi đã không cho phép. Tôi đã lễ lạy cha mẹ tôi hằng ngày. Sau này, tôi cũng lạy những người trong làng tôi, tôi lạy trời đất, vua chúa, bà con, thầy giáo. Tôi cúi lạy những người hiền lành nhất và những người hung ác nhất.
Bằng Đan Mỹ: Xin lỗi cho con ngắt lời. Làm như vậy người ta sẽ không cho Thầy là kỳ quặc hay sao?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Vậy tôi vẫn không còn là người "kỳ quặc" hay sao? Cho dù có kỳ quặc hay không, ai sẽ là người phê phán?

Bằng Đan Mỹ: Dạ con sẽ không hỏi về việc đó nữa. Xin Thầy tiếp tục.
Hòa Thượng Tuyên Hóa:  Lúc tôi 19 tuổi thì mẹ tôi qua đời. Tôi đã thủ hiếu ba năm bên phần mộ của mẹ tôi, sau đó tôi xuất gia và không hề trở về nhà nữa.
Bằng Đan Mỹ: Vậy Thầy có sư phụ không?

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Cố nhiên là tôi có. Thật ra tôi có rất nhiều vị thầy. Trên nhiều phương diện ông cũng có thể là thầy của tôi. Tôi đã theo học với nhiều đại sư nhưng Hòa Thượng Hư Vân là người đã giúp cho tôi nhiều nhất.
Bằng Đan Mỹ: Dạ Hoà Thượng Hư Vân là ai vậy?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Ông chưa hề nghe nói về Hòa Thượng Hư Vân à, đúng không? Ông muốn đại diện cho tờ Lão Thiên mà không biết chi về Ngài cả, thật ông còn nhiều điều để học hỏi.
Bằng Đan Mỹ: Dạ con đồng ý. Cho phép con hỏi, duyên lành nào khiến Thầy đến xứ Hoa Kỳ này để truyền bá Phật Pháp?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Lúc tôi xuất gia phần lớn người Trung Hoa đều tin vào đạo Phật. Tuy nhiên đa số họ không hiểu gì về Phật pháp. Họ chỉ tìm cầu được nhiều phước đức, sống lâu, bình an và hòa thuận. Không một ai cầu trí huệ. Giáo nghĩa Phật Giáo rất thâm sâu nhưng rất ít người biết được điều này, vì vậy cho nên đạo Phật đã không được truyền bá sâu rộng. Nếu ông thử nhìn cuốn Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, nó đã được phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ, ngược lại, kinh sách Phật vẫn chưa được phiên dịch sang Anh ngữ. Cho nên người Tây phương không có những phương tiện để tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của Phật Giáo. Các vị xuất gia đã không nổ lực truyền bá đạo Phật đến các cộng đồng. Tại các chùa Trung Hoa, họ chỉ thưc hành các thời khóa buổi sáng và chiều là cảm thấy đầy đủ lắm rồi, còn về việc thuyết giảng và phiên dịch kinh điển thì không có ai làm cả. Nếu phật tử chúng ta biết nhìn xa, chúng ta ngày nay đáng lẽ đã hoàn tất phiên dịch kinh sách ra các ngôn ngữ của thế giới rồi. Dĩ nhiên chúng ta không có đủ nhân lực để làm chuyện khó khăn này. Tuy nhiên người Trung Hoa ngày xưa chỉ biết có nước Trung Hoa mà thôi và không nhận thức được thế giới quá là rộng lớn như vậy. Vì thế tôi quyết định, bước đầu tiên để truyền bá đạo Phật là phiên dịch kinh điển. Khi tôi đến Hoa Kỳ năm 1962, tôi đã thành lập Hội Phật Giáo Trung Mỹ. Hiện nay ở chùa Vạn Phật Thánh Thành, chúng ta có Viện Phiên Dịch Kinh Sách Phật Giáo Quốc Tế với hơn 40 vị Tăng Ni thông thạo với nhiều ngôn ngữ của nhiều quốc gia. Họ đã làm việc vất vả cho việc dịch thuật, và trong 20 năm qua, đã có hơn 100 quyển Kinh đã được phiên dịch sang Anh ngữ.

Bằng Đan Mỹ: Những người Hoa ở San Francisco cho rằng những người sống tại Vạn Phật Thánh Thành là...
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Ông muốn nói là những người kỳ quái?
Bằng Đan Mỹ: Dạ không, không phải. Họ nghĩ đó là vùng đất của chư Phật, nơi chư Tăng Ni tu hành nếp sống khổ hạnh.
Hòa Thượng Tuyên Hóa: (Hòa Thượng bật cười thật lớn). Chúng tôi không cảm thấy khổ, ngược lại chúng tôi cảm thấy có đầy đủ những gì mình cần. Ông chắc không biết đâu, ngoài việc phiên dịch kinh sách ra, chúng tôi có chùa Kim Sơn Thánh Tự tại San Fracisco, ở Los Angeles thì có chùa Kim Luân Tự, ở Vạn Phật có Như Lai Tự, ở Seattle có trung Tâm Bồ Đề Đạt Ma . Ngoài ra ở Vạn Phật còn có trường Đại Học Phật Giáo Pháp Giới, trường trung học Bồi Đức và trường tiểu học Dục Lương.
Bằng Đan Mỹ: Thật à! Con xin lỗi, con thật không hề biết. Để thành lập ra nhiều trường và tu viện như vậy chắc Thầy cần rất nhiều ngân quỹ. Thầy đã quyên tiền như thế nào?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Quyên tiền à? (Hòa Thượng lại cười to) Tôi thà chết đói còn hơn đi xin tiền (hóa duyên). Hãy nghĩ xem, khi tôi mới đến Hoa Kỳ, không ai biết gì đến đạo Phật. Nếu tôi đi vòng quanh để khất thực chắc mọi người sẽ sợ hãi bỏ chạy hết. Tăng đoàn của chúng tôi chắc chắn là không có quyên tiền gây quỹ, trừ khi có người đến tu viện chúng tôi và tự ý muốn cúng dường.
Bằng Đan Mỹ: Ở Mỹ này đã có bao nhiêu người quy y với Thầy?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Tôi không có đếm và điều đó cũng không quan trọng đối với tôi. Quy y với tôi cũng tốt, không quy với tôi cũng tốt, tất cả đều giống nhau. Chỉ có một Pháp Giới, không hề có sự xung đột nào cả. Ngay cả khi ông có phản đối tôi, tôi cũng không phản đối ông. Dù ông tin theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái hay đạo Hồi Giáo, tất cả không hề chi. Khi Đức Hồng Y Vu Bình đến viếng thăm, tôi bảo các đệ tử tôi "Ai muốn theo đạo Ki-Tô, đây là thời điểm tốt nhất để đổi đạo". Lúc đó Đức Hồng Y Vu Bình đã rất đổi ngạc nhiên. Sự thật là có các sự tranh chấp trong nhân loại chỉ vì chúng ta không thể đàm luận với nhau. Nếu chúng ta không có những quan điểm bị chia rẽ bởi phe phái, và chúng ta không có những xung đột về quan điểm thì chiến tranh sẽ không có trên thế gian này.
Bằng Đan Mỹ: Theo Thầy tình hình xã hội Hoa Kỳ tiếp thu Phật Pháp như thế nào?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Đã có rất nhiều người Mỹ tự tìm đến tôi. (Trong lúc đang nói chuyện thì có một vị đệ tử người Mỹ đi qua. Hòa Thượng chỉ tay vào người này). Người mới đi qua đây là thầy Hằng Thuận, ông ấy đã xuất gia tại Thái Lan và trước tiên tu theo Nam Tông. Ho mặc y phục màu vàng . Sau đó khi ông nghe nói về chùa Kim Sơn ở San Francisco, ông ta đã tìm đến. Một khi đến đây ông ấy chịu không nổi vì chúng tôi chỉ ăn ngày một bữa cho nên ông đã về lại Chicago. Khi đến nơi ông ta gởi thư hỏi một vài chuyện. Tôi bảo: "Khi ông còn ở đây, ông đã không hỏi. Ông chỉ hỏi sau khi ra đi, cho nên tôi sẽ không trả lời ông". Ông ấy chịu không nổi do đó ông ấy quay trở lại San Francisco. Sau khi đến đây ông ta đã phụ giúp nấu ăn và rửa chén. Trong mấy tháng đầu tôi không hề nói chuyện với ông ta. Một ngày kia chúng tôi có một buổi lễ. Thông thường sau 12 giờ trưa thì chúng tôi không ăn bất kỳ cái gì cả. Thầy Hằng Thuận lúc đó đang rửa chén đĩa đến gần 3 giờ chiều và cảm thấy đói bụng. Ông ấy đi tìm cái gì đó để ăn, ông thấy trong sọt rác còn một miếng bánh nhìn vẫn còn rất sạch. Ông ta nhìn quanh từ trái sang phải, nhìn lên nhìn xuống không thấy ai thì luợm lên và ăn. Ông ta nghĩ sẽ không ai biết chuyện này.
Vào ngay tối hôm đó trong khi thuyết pháp, tôi nói: “Ở chùa Kim Sơn khi chúng ta ngồi thiền, có nhiều người chịu đựng không nổi. Do không ăn vào buổi sáng hay tối nên phần lớn chúng ta đều nhịn đói đến khi bao tử bắt đầu cồn cào. Nếu ai không chịu nổi thì tôi sẽ chỉ cho một cách đánh cắp đồ ăn. Quý vị đi đâu để lấy cắp đồ ăn? (Ngay lúc đó, thầy Hằng Thuận đi ngang qua, Hoà Thượng bèn trêu ghẹo bằng cách nói : “Ta đang kể về chuyện con đánh cắp thức ăn từ thùng rác). Tất cả quý vị đây đều có thể đến thùng rác để tìm đồ ăn. Trong đó còn nhiều bánh trái mà chưa có ai ăn, ngay cả con chuột cũng không màng ăn nữa. Đó là chỗ thật tốt để tìm thức ăn. Trong 3 ngày liền, thầy Hằng Thuận trốn biệt trong phòng và không dám ra ngoài nữa. Thế là tôi phải đi lên lầu tìm ông ta. Khi nhìn thấy tôi ông ấy hoảng sợ như chú chuột nhắc. Tôi hỏi: “ Chuyện gì vậy?” Ông ta đáp: “Con rất sợ Sư phụ.” Tôi bảo: “Ta có gì đáng sợ hả?” Ông ta trả lời: "Sư phụ có thể nhìn thấu tâm ý con.” Tôi lại hỏi “Tâm con nó ra sao? Nó trắng, xanh, đỏ hay đen vậy? Hãy đem ra đây để ta xem. Nó dài hay tròn, hình tam giác hay hình vuông hả? Nó có chất gì đó không?” Ông ta ngẫm nghĩ rồi đáp: Con không biết cách đem nó ra và bày tỏ với Sư phụ. Tôi nói: Thế thì tại sao con lại sợ ta chứ?”
Bằng Đan Mỹ: Con nghe nói Thầy có hai vị đệ tử hành hương Tam Bộ Nhất Bái từ Los Angeles đến chùa Vạn Phật Thánh Thành. Lái xe thôi cũng cần 8 tiếng vậy thì họ làm sao đi được?

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Chuyện này thật không đáng chi. Hai thầy Hằng Thật và Hằng Triều đều là người Mỹ trẻ, thầy Hằng Thật từng học Hoa ngữ tại Đại Học Đông Hải ở Đài Loan, trước khi xuất gia thầy đã có bằng Cao Học ở trường Đại Học UC Berkeley. Lúc thầy xin phép hành hương Tam Bộ Nhất Bái để cầu nguyện cho hòa bình thế giới tôi đã không cho phép, cố nhiên cũng là vì sự an toàn. Lý do là theo quy luật của Tam Bộ Nhất Bái thì cho dù trời mưa hay trời tuyết, ông không thể ngừng được. Thêm nữa, trên đoạn đường từ Los Angeles đến San Francisco có rất nhiều nguy hiểm, có những làng xóm nơi đó có nhiều băng đảng, những người say rượu và những thành phần xấu khác. Tuy nhiên thầy Hằng Thật đã quyết tâm nên tôi bảo: "Chỉ khi nào con tìm được người hộ pháp đi cùng với con". Sau đó không lâu, thầy Hằng Triều quy y Tam Bảo và cũng muốn tham dự cuộc hành hương. Chỉ khi đó tôi mới cho phép họ.
Cậu chuyện quy y của Hằng Triều cũng khá ly kỳ. Sau khi tốt nghiệp đại học , một ngày kia anh ta đi bộ dọc trên đường và nhìn thấy hình tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát. Không hiểu lý do vì sao mà tự nhiên cả người anh ta rúng động run cả lên. Anh ấy sợ quá không dám nhìn thêm lần nữa. Sau đó không cưỡng lại được, anh liều lén nhìn thêm một lần và như lần trước, cả người anh run như cầy sấy. Anh ta bèn hỏi thăm xem hình tượng đó đến từ đâu. Có người bảo là từ chùa Kim Sơn Thánh Tự, do đó anh ấy đến tìm tôi mong giải thích sự bí ẩn này. Khi đó tôi dặn khi rảnh rỗi hãy đến đây nghe thuyết pháp. Kể từ đó anh ta ngày nào cũng đến cả. Một hôm trong khi thuyết pháp, tôi nói: "Có một số người đến chùa Kim Sơn Thánh Tự nhưng không chú tâm vào công án thiền mà cũng không màng đến ngồi thiền, vậy quý vị đến đây có lợi ích gì? Quý vị không cần đến đây nữa đâu." Sau khi nghe nói như vậy, thầy Hằng Triều mới bắt đầu ngồi thiền với những vị khác. Ngay lập tức khi vừa mới ngồi thiền, anh ấy nhìn thấy nhiều điều trong những kiếp trước. Anh bừng chợt nhận ra những chuyện mình đã làm trong nhiều kiếp về trước, bao gồm cả chuyện làm hoàng đế!
Bằng Đan Mỹ: Là vị hoàng đế nào?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Lương Võ Đế (Hoàng đế nhà Lương).
Bằng Đan Mỹ: (Cười)
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Chẳng có gì đáng cười hết. Có một người kia cười khi người ta bảo tay của ông ấy có nhiều vi khuẩn. Nếu ông cười (tỏ ra không tin), ông cũng y như kẻ kia cho là tay mình không có vi trùng. Chuyện này chính nó mới thật đáng cười .

Bằng Đan Mỹ: Con xin lỗi. Xin Thầy cứ tiếp tục nói tiếp.

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Sau đó, thầy Hằng Triều đã quy y Phật và rất thành tâm học hỏi Phật pháp. Anh ta rất giỏi về võ thuật Trung Hoa, tôi đã để cho anh ấy đi cùng với thầy Hằng Thật để hoàn thành chuyến hành hương Tam Bộ Nhất Bái. Trong cuộc hành trình của họ đã có nhiều chuyện kỳ lạ xảy ra. Có một lần có một cơn bão lớn xảy ra tại Los Angeles khiến 9 người thiệt mạng. Lúc đó họ đang lạy ngang qua trung tâm của cơn bão , họ tiếp tục lạy và chung quanh họ thì chỉ có một vài cơn mưa phùn nhỏ thôi. Đôi lúc những bọn cướp đến làm phiền họ. Khi sự việc trở nên nghiêm trọng và Hằng Triều chỉ nghĩ đến việc dùng đến võ thuật của mình thì bọn cướp lại quay đầu bỏ đi.

Bằng Đan Mỹ: Vậy họ có đến Vạn Phật Thánh thành bình an vô sự chứ?

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Chuyện này cần phải hỏi à? Không phải hai người họ đang ở đây an toàn với chúng ta hay sao?
Bằng Đan Mỹ: Xin cám ơn Hòa Thượng. Thầy có còn điều gì muốn nói với độc giả của báo "Lão Thiên"?
Hòa Thượng Tuyên Hóa: Lão Thiên là một cái tên khá hay, nguyên tắc của nó cũng rất tốt. Quý vị nên xem lại mối quan hệ giữa Trời và Người. Đây là một tham vọng lớn tuy nhiên tôi nghĩ nó thật quan trọng để giúp con người chỉnh đốn lại trạng thái băn khoăn, lo lắng trong tâm mình. Ngày xưa người ta không thấu hiểu đạo Phật và chỉ tìm cầu được nhiều phước đức, sống lâu, bình an và hòa thuận. Mặc dù Đức Phật có thể phù hộ cho họ nhưng người ta không bao giờ nghĩ là mình cần nên suy nghĩ về những lỗi lầm của mình. Nếu người ta có thể tuân theo các tôn chỉ “Không Tranh, Không Tham, Không Cầu, Không Ích Kỷ, Không Tự Lợi và Không Nói Dối” thì đây chính là sự bình an và hòa thuận. Tại sao chúng ta phiền não, tại sao chúng ta không hạnh phúc? Tại vì chúng ta luôn luôn tranh giành, tham cầu, ích kỷ và mưu lợi cho bản thân. Vì chúng ta là như vậy nên chúng ta phải lường gạt, dối trá với kẻ khác. Lường gạt kẻ khác là chuyện buồn nhất người ta có thể làm. Tại sao con người trên đời này khổ như vậy? Đó là vì họ thích lường gạt kẻ khác. Có câu rằng: “Khi biết đủ, đó là hạnh phúc. Khi biết nhẫn, đó là hòa bình(Tri túc thường lạc, năng nhẫn tự an)”. Người ta khổ vì họ không biết nhẫn, họ không nhẫn nhịn được vì họ tham lam, mong cầu đủ thứ. Khi không đạt được những điều họ muốn, họ trở nên buồn phiền. Ý của trời cao không phải là gây phiền muộn cho chúng sanh mà đó là vì chúng sanh đi lầm đường và tự tạo nên phiền phức cho mình.

Lào và Đường mòn Hồ Chí Minh